Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2020

Thai nhi nguy cơ mắc bệnh khi bà bầu bị béo phì

 Mẹ bầu thừa cân nhưng thai nhi thì vẫn thiếu chất và có nguy cơ chậm phát triển là một nghịch lý khá phổ biến hiện nay. Vì sao vậy và làm cách nào để khắc phục? Cùng xét nghiệm sàng lọc trước sinh gentis tìm hiểu ngay nhé !

Thai nhi dễ mắc bệnh khi mẹ bầu bị thừa cân

Theo thống kê của các nhà nghiên cứu, tình trạng bà bầu thừa cân phải cấp cứu do nhiễm độc thai nghén chiếm khoảng 7-8% trong số thai phụ khám bệnh. Nguyên nhân ban đầu của tình trạng này được cho là do mẹ bầu ăn nhiều và tăng cân quá mức.
Tình trạng bà bầu tăng cân quá mức 15 – 25kg, sinh con suy dinh dưỡng (dưới 2,5kg) hiện nay khá phổ biến. Theo các bác sĩ khoa sản, chị em thường quan niệm rằng ăn càng nhiều càng bổ, thai nhi sẽ phát triển tốt nhưng thực ra đây là nguyên nhân của hàng loạt các nguy cơ:
  • Sinh non
  • Tiểu đường
  • Thai chết lưu
Thông thường, trong thời kỳ mang thai người mẹ chỉ nên tăng khoảng 9 – 12 kg nhưng nếu tăng cân trên 15kg thai phụ cần phải lưu ý và thường xuyên đi khám thai. Với những thai phụ tăng cân quá nhanh nhưng lại bị cao huyết áp, có triệu chứng phù, protein niệu… sẽ là những yếu tố đe doạ tới sự phát triển của thai nhi, nặng nề hơn có thể làm thai chết lưu.
Ngay cả với những bà bầu không có những bệnh lý về tim mạch, huyết áp, thận… nhưng nếu từ tháng thứ 6 trở đi tăng khoảng 10kg cũng phải thận trọng bởi có thể gây ra bệnh cao huyết áp, tiểu đường và dễ sinh non. Đây cũng là trong những nguyên nhân gây suy dinh dưỡng bào thai. 
Thống kê cho thấy, đái tháo đường thai kỳ xảy ra, trên khoảng 5 – 10% thai phụ, phần lớn xuất hiện sau 20 tuần thai phụ.
Tương tự, cao huyết áp thai kỳ là một hội chứng bao gồm cao huyết áp, đạm niệu và phù nề, xảy ra trên khoảng 7 – 8% thai phụ và thường ở 3 tháng cuối thai kỳ. Tình trạng này làm giảm lượng máu đến tử cung dẫn đến thai nhi bị thiếu chất dinh dưỡng.

Mẹ bầu tăng cân không đúng mức dẫn đến nhiều nguy cơ trong thai kỳ

Vì sao mẹ bầu thừa cân, con vẫn thiếu chất?

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, nguyên nhân của tình trạng này có thể do bà mẹ ăn nhiều nhưng ăn chưa đủ các loại dưỡng chất dẫn đến thai nhi bị thiếu đa vi chất, chậm phát triển.
Thêm nữa, tình trạng thiếu máu do thiếu sắt cũng là yếu tố khiến quá trình nuôi thai của người mẹ không hiệu quả, trẻ sinh ra dễ bị nhiễm trùng, chỉ số thông minh thấp.
Trong khi đó, ở nước ta thiếu máu ở phụ nữ mang thai khá phổ biến. Đây là nguyên nhân khiến người mẹ dễ bị nhiễm trùng, sẩy thai, sinh non, băng huyết khi sinh, làm bào thai kém phát triển, tăng nguy cơ tử vong cho cả mẹ và con. 
Ngoài ra, việc bà bầu tăng cân nhanh nhưng thai vẫn bị suy dinh dưỡng có thể do các nguyên nhân khác như thai nhi bị rau cuốn cổ, hoặc do tử cung người mẹ nhỏ không đủ không gian cho thai nhi phát triển.
Còn một nguyên nhân nữa là do chị em bầu có xu hướng bổ sung vitamin quá sớm. Việc bà bầu bổ sung quá nhiều canxi dẫn đến không những tăng thêm nguy cơ bị sỏi thận và tắc sữa, mà còn khiến cho nhau thai bị canxi hoá quá sớm và không thực hiện tốt chức năng nuôi dưỡng thai.
Vì vậy, các bác sĩ khuyến cáo rằng khi mang thai ở thời kỳ giữa nên bắt đầu bổ sung vitamin, nhưng tốt nhất là qua ăn uống, nếu phải bổ sung vitamin tổng hợp, cần phải theo sự hướng dẫn của bác sĩ. xét nghiệm double test là gì ?

Bà bầu ăn uống không đúng cách là nguyên nhân gây thiếu chất ở thai nhi

Chế độ dinh dưỡng cân bằng cho mẹ và thai nhi

Để mẹ bầu tăng cân hợp lý và thai nhi vẫn phát triển tốt, chị em nên bổ dung dinh dưỡng hợp lý theo chế độ ăn dành cho bà bầu:
  • Ăn nhiều bữa trong ngày chứ không nên chỉ ăn 3 bữa chính
  • Ăn đa dạng thực phẩm để đạt nhu cầu dinh dưỡng cần thiết nhất
  • Để đủ chất dinh dưỡng và sức khỏe, chị em nên tăng khẩu phần ăn hơn lên so với trước khi mang thai, nhưng không được ăn tăng gấp 2 lần
  • Nên bổ sung thức ăn giàu đạm như thịt, cá, tôm, cua, trứng, sữa, các loại đậu
  • Nếu có điếu kiện mỗi ngày uống 2 ly sữa. Chất béo nên sử dụng dầu thực vật và chỉ ăn vừa phải
  • Không nên ăn quá nhiều chất ngọt
  • Thai phụ nên ăn nhiều rau và trái cây để tránh táp bón và trĩ, đồng thời tăng cường sức khỏe
  • Phụ nữ mang thai cũng đừng quên uống nước, ít nhất 2-3 lít nước mỗi ngày.

Bà bầu tăng cân như thế nào là hợp lý?

Các chuyên gia khẳng định rằng, việc tăng cân “chuẩn” trong suốt quá trình mang thai hợp lý vào khoảng
  • Từ 9kg -12 kg là mức tăng bình thường;
  • Những phụ nữ gầy thì cần tăng cân vào khoảng 13kg-18 kg;
  • Phụ nữ hơi béo nên tăng số cân vào khoảng 7kg – 11kg.
Số cân nặng chuẩn theo từng quý:
  • Quý I: 1.3 kg – 2.2 kg;
  • Quý II: 0.5 kg- 0.8 kg/tuần;
  • Quý III: 0.5 kg- 0.8 kg/tuần.
Các mẹ nhớ lên danh sách thực đơn hàng ngày và chú ý hơn mức tăng cân theo từng giai đoạn thai kì nhé, tránh trường hợp mẹ thì tăng cân nhiều nhưng bào thai vẫn nhẹ cân. 

Thứ Ba, 6 tháng 10, 2020

Uống rượu khi đang mang thai sẽ ảnh hưởng thế nào ?

 Việc mẹ bầu uống rượu không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ mà còn đe dọa đến sức khỏe, thậm chí tính mạng của thai nhi nên mẹ đặc biệt lưu ý. Cùng dịch vụ sàng lọc trước sinh gentis tìm hiểu chi tiết trong bài viết sau đây.

Bà bầu uống rượu sẽ ảnh hưởng như thế nào ?

Trong quá trình mang thai, nếu mẹ bầu liên tục uống bia thì con cũng sẽ hấp thu theo mẹ. Việc hấp thu lượng cồn thật sự không hề tốt cho sức khỏe của con trong bụng mẹ cũng như ảnh hưởng đến cả sau khi con chào đời.

Tăng nguy cơ sảy thai

Nếu trong suốt thai kỳ, mẹ thường xuyên uống rượu bia sẽ tạo ra môi trường vô cùng độc hại cho thai nhi. Cơ thể non yếu, chưa hoàn thiện của con sẽ phải sống trong môi trường ấy và không có đủ khả năng chống chọi lại với môi trường chứa nhiều cồn.
Điều này tồn tại nguy cơ gây sảy thai, thai chết lưu bởi uống nhiều rượu bia không hề tốt cho sức khỏe của mẹ bầu và nhất là thai nhi.

Tăng nguy cơ dị tật cho thai nhi

Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh cồn có thể gây hại đối với sức khỏe con người, và thai nhi cũng không nằm ngoài số ấy. Một nghiên cứu ở Mỹ cho rằng phụ nữ có thai uống trên 30ml rượu nguyên chất mỗi ngày sẽ làm tăng nguy cơ con bị dị dạng, chậm phát triển trí tuệ. Một nghiên cứu khác cũng cho rằng rượu chính là chất gây ra quái thai, sự bất thường trong tâm trí bào thai cũng như em bé sau khi chào đời.
Thế nhưng, nhiều chị em vẫn xem thường hoặc đã ở mức “nghiện” nên vẫn uống bia rượu trong suốt quá trình mang thai. Nhiều người lại tin rằng, uống bia rượu có thể giúp em bé trong bụng có làn da mịn màng và mẹ tăng tiết sữa. Thế nhưng, điều này lại chưa hề có một nghiên cứu nào khẳng định. Vì vậy, thay vì được hưởng một ít mặt tích cực (có thể) này, chị em không nên đánh đổi và gây ra nhiều nguy hại đối với sức khỏe 2 mẹ con. Đo độ mờ da gáy ở tuần bao nhiêu ?

Khi mang thai nếu mẹ uống rượu có nguy cơ gây dị tật thai nhi

Thai nhi có thể kém phát triển

Chất ethanol trong rượu sau khi vào cơ thể mẹ sẽ được chuyển hóa thành acetaldehyde có khả năng gây độc và ảnh hưởng nghiêm trọng đến tế bào thai.
Rượu bia làm giảm lượng máu lưu thông giữa mẹ và bé, khiến trẻ không thể hấp thụ đầy đủ các chất dinh dưỡng cũng như các dưỡng khí nên sẽ khó phát triển khỏe mạnh bình thường và khả năng bị sinh non cao hơn những đứa trẻ khác.
Khi mẹ bầu uống rượu, các chất kích thích trong loại đồ uống có cồn này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi vì rượu cũng truyền sang bé qua nhau thai. Nếu như lá gan ở cơ thể mẹ có thể phân hủy rượu một cách nhanh chóng, thì tác hại của rượu với thai nhi sẽ kéo dài hơn vì chức năng non yếu của lá gan mới hình thành.
Rượu tương tác với Prostaglandin – một hợp chất ảnh hưởng tiêu cực tới khả năng tăng trưởng và phát triển các chức năng cơ thể của thai nhi. Nghiêm trọng hơn, rượu cũng làm cho lượng máu lưu thông từ mẹ sang con qua nhau thai giảm xuống, khiến trẻ không hấp thụ đủ lượng dưỡng chất và oxy. Rượu cũng làm giảm sút khả năng hấp thụ kẽm và magie và các kích thích tố tăng trưởng khác.
Mọi tế bào của thai nhi đều bị ảnh hưởng vì rượu làm thay đổi cấu trúc màng tế bào và ảnh hưởng tới tốc độ phân bào, tăng trưởng tế bào, đặc biệt là tế bào thần kinh. Bên cạnh đó, trẻ còn bị tổn thương não vì rượu gây khó khăn cho quá trình dẫn truyền tín hiệu thần kinh trong vùng não non yếu của bé.

Ảnh hưởng đến hệ thần kinh của thai nhi

Các nhà nghiên cứu ở hai trường đại học Oxford và Bristol đã tiến hành thu thập dữ liệu từ 4000 mẹ bầu trên khắp thế giới để tiến hành phân tích và nghiên cứu ảnh hưởng của việc uống rượu khi mang thai. Kết quả cho thấy, rượu là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến các dị tật bẩm sinh và chứng chậm phát triển trí tuệ.

Mẹ bầu uống nhiều rượu khi mang thai có thể ảnh hưởng đến thần kinh của thai nhi
Ở giai đoạn đầu của thai kỳ, nếu mẹ bầu uống rượu bia có thể làm thay đổi cấu trúc của màng tế bào và khiến cho quá trình phân bào diễn ra chậm hơn bình thường. Lúc này, các tế bào đều bị ảnh hưởng, nhất là tế bào thần kinh. Do đó, hoạt động của não trẻ sẽ bị ảnh hưởng về sau nếu như mẹ thường xuyên uống rượu bia trong suốt thai kỳ.
Với những trường hợp này, đứa trẻ sau khi lớn lên sẽ mắc phải các tình trạng: tiếp thu kém, kém tập trung, trí nhớ kém, hiếu động quá mức, không tự chủ được bản thân. Những vấn đến này ảnh hưởng nặng nề đến cuộc sống của con nên mẹ hãy hạn chế tối đa, hoặc không được sử dụng bia, rượu khi mang thai.

Ảnh hưởng đến chất lượng sữa

Nếu ở cuối thai kỳ hoặc trong giai đoạn cho con bú, mẹ bầu thường xuyên sử dụng bia, rượu sẽ khiến cho chất lượng sữa bị giảm sút đáng kể. Trong khi đó, sữa mẹ lại vô cùng quan trọng đối với sự phát trẻ của bé, nhất là ở 6 tháng đầu đời. Trong sữa giàu folate, chất dinh dưỡng quan trọng và cần thiết cho bé lớn lên khỏe mạnh và phòng chống các loại bệnh như thiếu máu. Thế nhưng, rượu lại làm giảm giá trị dinh dưỡng đó.
Trong thời gian cho con bú mẹ cũng nên hạn chế tối đa việc uống rượu, bia
Chất lượng sữa giảm sẽ kéo theo nhiều ảnh hưởng tiêu cực lên trực tiếp trẻ như: giảm hệ miễn dịch của trẻ, khiến bé phát triển trí não kém hơn, rượu chứa trong sữa mẹ ảnh hưởng đến giấc ngủ của bé, khiến bé khóc nhiều hơn….
Như vậy, việc mẹ bầu uống rượu bia trong thai kỳ cũng như trong giai đoạn cho con bú đều ảnh hưởng tiêu cực đến trẻ. Mẹ hãy lưu ý điều này để giúp con yêu phát triển khỏe mạnh, mẹ nhé!
Vì vậy, mẹ bầu cần tránh xa các loại đồ uống có cồn, kể cả bia, rượu vang và rượu trứng để đảm bảo sức khỏe cho cả hai mẹ con.

Mất ngủ với các bà bầu có tác hại như thế nào ?

 Khi mang thai, những kích thích tố progesterone thường khiến cho nhiều phụ nữ mệt mỏi và muốn ngủ nhiều hơn. Tuy nhiên bà bầu cũng thường bị mất ngủ ảnh hưởng đến sức khỏe mẹ và bé. Bài viết này cùng xét nghiệm sàng lọc trước sinh gentis tìm hiểu chi tiết những tác hại của mất ngủ và mẹo để có giấc ngủ ngon nhé !

Những tác hại của việc mất ngủ với bà bầu

Sức khỏe của trẻ bị ảnh hưởng xấu nếu mẹ bầu ngủ muộn hay ngủ không đủ giấc như:

Trẻ sinh ra dễ thiếu máu

Nếu trong thời gian mang thai mẹ bầu ngủ muộn sau 23 giờ không chỉ tác động xấu tới sức khỏe của mẹ mà còn vô tình làm chậm quá trình tự tạo máu tự nhiên của thai nhi trong bụng. Bởi trong khoảng thời gian từ 23 giờ – 3 giờ sáng là thời điểm thuận lợi cho sự tạo máu trong cơ thể trẻ.

Trẻ sinh ra chậm phát triển

Thông thường khi các mẹ thức quá khuya dẫn tới sự thay đổi đồng hồ sinh học làm rối loạn hormone tăng trưởng thùy trước tuyến yên của trẻ. Vì thế, khi phụ nữ mang thai thiếu ngủ hay ngủ quá muộn sẽ kìm hãm sự phát triển và tăng trưởng của thai nhi, trẻ sinh ra có thể nhẹ cân, chậm phát triển…

Trẻ sinh ra hay quấy khóc

Mẹ bầu ngủ muộn đồng hồ sinh học của trẻ cũng thay đổi theo người mẹ và dần dần trở thành thói quen. Tình trạng này kéo dài trẻ trong bụng mẹ được sinh ra hay quấy khóc, tức giận.

Mẹo ngủ ngon cho bà bầu

3 tháng đầu thai kỳ

Trong 3 tháng đầu, phụ nữ mang thai thường phải đối diện với một loạt cảm xúc từ sợ hãi, lo lắng đến vui sướng với tin mang bầu. Đây là thời kỳ cơ thể cũng sản xuất thêm các kích thích tố mới.
Sự gia tăng hormone progesterone trong thai kỳ sẽ gây ra nhiều mệt mỏi liên tục cho bà bầu. Lúc này, bà bầu thường có xu hướng mệt mỏi hơn trong 3 tháng đầu và tình trạng này sẽ được cải thiện trong 3 tháng tiếp sau của thai kỳ.
Đặc biệt hormone progesterone không chỉ làm cho bà bầu buồn ngủ, mà nó còn khiến bà bầu phải đi tiểu nhiều vì nó tăng cường chức năng của thận.
Chưa kể, những dấu hiệu của “ốm nghén” hoành hành như chóng mặt, buồn nôn cũng làm cho giấc ngủ bà bầu khó khăn hơn khi nằm xuống hoặc khi bị kích hoạt bởi mùi vị.

Mẹo ngủ ngon cho bà bầu trong 3 tháng đầu thai kỳ:

– Nghỉ ngơi nhiều nhất có thể và ngủ mỗi lúc có thể.
– Uống nhiều nước và ăn thực phẩm chứa nhiều chất lỏng trong ngày nhưng tránh ăn hay uống chúng vào buổi tối để có thể cắt giảm những lần phải vào nhà vệ sinh vào ban đêm.
– Chống triệu chứng buồn nôn với đồ ăn nhẹ và bánh quy. Ăn thường xuyên và ăn thành nhiều bữa nhỏ trong ngày để tránh dạ dày trống rỗng. Luôn giữ bánh quy giòn ở bên cạnh khi bạn buồn nôn.
– Ngủ trong tư thế nghiêng về bên trái càng nhiều càng tốt. Đây là vị trí tốt nhất để đảm bảo sự lưu thông máu tốt. Sử dụng thêm gối để đặt giữa hai đầu gối hoặc dưới bụng giúp bạn cảm thấy thoải mái hơn.
– Khi thức dậy ban đêm, bạn không nên bật đèn sáng mà chỉ nên bật đèn có ánh sáng dịu nhẹ để có thể tiếp tục ngủ.
– Hãy cố gắng đi ngủ cùng một thời điểm mỗi đêm. Điều này sẽ giúp cơ thể bạn dần xây dựng một lịch trình cho giấc ngủ

Ngủ trong tư thế nghiêng càng nhiều càng tốt

3 tháng giữa thai kỳ

Nhiều bà bầu thường lấy lại sự khỏe khoắn khi bước vào 3 tháng giữa thai kỳ. Đây là thời kỳ các bà bầu không phải đối diện nhiều với nguy cơ sảy thai, những triệu chứng buồn nôn, đi tiểu thường xuyên và chứng buồn ngủ cũng có nhiều khả năng biến mất.
Hầu hết bà bầu thường cảm thấy tốt nhất trong giai đoạn này và bắt đầu tăng trọng lượng cơ thể nhanh chóng. Nhưng cũng có rất nhiều biến đổi trong giai đoạn này khiến các bà bầu vẫn bị khó ngủ.
Để lấy chỗ cho tử cung mở rộng, cơ hoành bị hạn chế và hơi thở của bà bầu trở nên ngắn và nông hơn. Điều này khiến bà bầu thường phải đối mặt với chứng ợ nóng khó chịu. Hoặc nhiều bà bầu lại xuất hiện những giấc mơ về sự phát triển của thai nhi thường xuyên, những giấc mơ này có thể rất đáng sợ hoặc sống động với họ. xét nghiệm triple test có vai trò quan trọng thế nào ?

Mẹo ngủ ngon cho bà bầu trong 3 tháng giữa thai kỳ:

– Để tránh ợ nóng, bà bầu nên cố gắng tránh gia vị, thức ăn chứa nhiều chất béo hoặc chiên
– Luôn ngủ với tư thế gối đầu cho đầu và cổ cao để giữ cho axit dạ dày không trào ngược lên cổ
– Ăn các bữa ăn thường xuyên nhỏ trong ngày
– Sử dụng thuốc kháng axit cũng cho hiệu quả và an toàn cho chứng ợ nóng
– Khi ngủ, bạn nằm nghiêng với đầu gối và hông cong. Đặt gối giữa hai đầu gối, dưới bụng và sau lưng của bạn. Điều này có thể giúp giảm áp lực thai kỳ nặng nề cho bạn.
– Để tránh những cơn ác mộng, cố gắng không ăn quá nhiều trước khi đi ngủ và luôn chia sẻ bất cứ lo ngại bạn đang lo lắng với bạn đời hoặc bác sĩ chuyên khoa của bạn.

Mẹ bầu nên sử dụng gối dành riêng cho phụ nữ mang thai để hỗ trợ cơ thể có tư thế ngủ ngon hơn

3 tháng cuối thai kỳ

Đây là giai đoạn bị mất ngủ và ngủ khó nhất trong toàn bộ thai kỳ của các bà bầu. Với tần suất đi tiểu quá nhiều, các bà bầu thường không thể thoải mái, cộng với cân nặng tăng thêm và phải chuẩn bị tâm lý cho cuộc vượt cạn, các bà bầu thường khá tỉnh táo vào ban đêm.
Bên cạnh đó, thai nhi trong bụng lại hay chuyển động. Điều này cũng có thể cản trở giấc ngủ bà bầu. Các khớp được nới lỏng và chuẩn bị cho việc sinh nở, nên cơ thể rất nặng nề, thậm chí việc đi bộ cũng có thể khó khăn.
Nhiều bà bầu thường xuyên thức dậy trong đêm trong giai đoạn này mà không có lý do. Điều này có thể gây buồn ngủ vào buổi sáng. Và trong giai đoạn cuối của thai kỳ, nhiều phụ nữ thấy mũi của họ đã bị sưng và nghẹt mũi nhiều hơn.
Nhiều bà bầu khác lại phàn nàn vì bị tình trạng chuột rút chân gây đau đớn, căng thẳng và mất ngủ vào ban đêm.

Mẹo có giấc ngủ ngon 3 tháng cuối thai kỳ:

– Ngủ nghiêng bên trái sẽ cho phép lưu thông máu tốt nhất cho thai nhi, tử cung và thận của bạn. Nó cũng giúp cải thiện lưu thông máu trở lại với tim.
– Hãy ôm một chiếc gối khi ngủ cũng sẽ giúp ngủ tốt hơn.
– Tránh dùng nước ngọt và đồ uống có ga khác vì chúng có thể gây ra hoặc trầm trọng hơn tình trạng chuột rút ở chân.
– Nếu bị phù chân hoặc ngáy ngủ quá nhiều, hãy hỏi ý kiến bác sĩ chuyên khoa.
– Nếu bạn không thể ngủ, hãy đừng cố ngủ mà ngược lại nên dậy và đọc, xem TV, nghe nhạc… vì khi ấy bạn có thể cảm thấy mệt mỏi để muốn tiếp tục ngủ trở lại.
– Nếu bạn đang bị chuột rút chân, hãy duỗi thẳng chân của bạn và uốn cong bàn chân, điều này sẽ giúp bớt đau đớn hơn. Hãy duy trì thói quen này nhiều lần trước khi đi ngủ để tránh tình trạng chuột rút.
Đọc thêm: hội chứng edwards là gì ?

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2020

Các mẹ bầu nên chú ý gì trước khi đi xét nghiệm sàng lọc trước sinh

 Xét nghiệm sàng lọc dị tật trước sinh là một việc quan trọng mà bất cứ phụ nữ mang thai nào cũng cần thực hiện để đảm bảo khả năng đứa bé được sinh ra khỏe mạnh, tránh được các khiếm khuyết trên cơ thể do dị tật bẩm sinh. Bài viết này gentis sẽ cùng các mẹ tìm hiểu về các lưu ý cần thiết trước khi đi xét nghiệm sàng lọc trước sinh.

Vài lưu ý dành cho các mẹ bầu trước khi đi xét nghiệm sàng lọc

Thời điểm nào là tốt nhất để xét nghiệm sàng dị lọc dị tật trước sinh ?

Các bác sĩ khuyên mẹ bầu nên đi khám sàng lọc dị tật trước sinh và đây là việc khám tổng hợp với các xét nghiệm, các thủ tục khác nhau và không cố định trong tuần thai nào. Thời gian đi khám cần dao động trong 1-3 tháng đầu tiên của thai kỳ, thường được tiến hành vào tuần thai thứ 10.
Mục đích của việc khám sàng lọc trước sinh là để kiểm tra chính xác và theo dõi sự phát triển của bào thai, xem đứa bé trong bụng mẹ có mắc các dị tật bẩm sinh, các khiếm khuyết trên cơ thể hay không.

Các phương pháp sàng lọc dị tật trước sinh tốt nhất hiện nay


Ở mỗi độ tuổi khác nhau (tuần thai khác nhau), người mẹ có thể lựa chọn những phương pháp khám sàng lọc trước sinh theo lời khuyên của bác sĩ. Những phương pháp hiện đại nhất được lựa chọn chính là:

Xét nghiệm sàng lọc không xâm lấn NIPT

Đây được đánh giá là phương pháp an toàn và hiệu quả nhất hiện nay, thực hiện trên tuần thai thứ 10 thông qua mẫu máu từ người mẹ. Xét nghiệm sàng lọc không xâm lấn NIPT phân tích ADN tự do của thai nhi trong máu người mẹ và kết quả có thể cho biết được thai nhi có mắc các hội chứng Down, Edwards, bệnh patau và nhiều hội chứng dị tật khác.
Xét nghiệm sàng lọc không xâm lấn NIPT đơn giản, chỉ cần khoảng 7-10ml máu ngoại vi của người mẹ và cho kết quả nhanh – chuẩn. Ngoài người mẹ mang đơn thai, phương pháp này cũng hiệu quả với trường hợp mang thai hộ, song thai.

Xét nghiệm sàng lọc trước sinh Double test

Phương pháp Double test được ứng dụng cho thai từ 11-13 tuần tuổi và tốt nhất là vào tuần thai thứ 12. Phương pháp này phát hiện được bệnh thừa NST số 13 hay còn gọi là bệnh Trisomy 13. Đồng thời, kết hợp đo độ mờ da gáy cũng phát hiện được các bệnh lý dị tật nguy hiểm khác là tim mạch, sứt môi, hở hàm, Down,…
Xét nghiệm double test xác định nồng độ 2 chất trong máu của mẹ do thai nhi tiết ra là β-hCG tự do FBC (Một thành phần trong cấu trúc của human chorionic gonadotropin) và PAPP-A (Một loại glycoprotein sản xuất từ nhau thai).

Phương pháp xét nghiệm sàng lọc trước sinh Triple test


Phương pháp Triple test được ứng dụng khi thai nhi từ 15-22 tuần, kết quả sẽ chính xác hơn trong khoảng 16-18 tuần. Phương pháp này có thể phát hiện được thai nhi có dị tật ở ống thần kinh.
Triple test xác định nồng độ của 3 chất khác trong máu người mẹ do thai nhi tiết ra là: Alpha-fetoprotein (Một loại glycoprotein có nguồn gốc từ bào thai), Unconjugated estriol (Xuất hiện vào ngày thứ 8 của thai nhi), beta human Chorionic Gonadotropin (Một loại steroid do nhau thai sản xuất).

Những lưu ý dành cho mẹ bầu trước khi đi xét nghiệm sàng lọc dị tật trước sinh

Để kết quả khám sàng lọc nhanh chóng và chính xác hơn, phụ nữ khi đi khám nên lưu ý đến những vấn đề quan trọng sau đây:
Thứ 1, với trường hợp khám sàng lọc Double test và Triple test, nên nhịn ăn sáng và chỉ uống nước lọc, không uống nước ngọt hay các loại chất kích thích khác.
Thứ 2, nếu đã đi khám trước đó thì lần khám tiếp theo nên mang theo kết quả trước, điền đầy đủ thông tin mà bác sĩ yêu cầu dựa trên kết quả lần khám trước.
Thứ 3, Trước khi đi khám sàng lọc trước sinh, nên tìm hiểu về thông tin tiểu sử gia đình có người mắc các bệnh dị tật thai nhi không. Cần tìm hiểu và hỏi rõ về thông tin này của cả vợ và chồng.
Thứ 4, Phụ nữ mang thai đi khám sàng lọc trước sinh nên có tinh thần thoải mái, giữ tâm trạng tốt nhất. Hiện nay, với sự tiến bộ của ngành y học thì việc khám sàng lọc rất nhanh, không đau đớn, ít tốn kém và hiệu quả khá cao, chẩn đoán sớm được các dị tật ở thai nhi để kịp thời đưa ra hướng giải quyết đúng đắn nhất.

Lợi ích của khám sàng lọc dị tật trước sinh

Khám sàng lọc trước khi sinh đối với cá nhân người phụ nữ và với gia đình, xã hội đều có những lợi ích nhất định đó là :
  • Tăng cơ hội sinh ra đứa trẻ khỏe mạnh, giảm nguy cơ dị tật ở trẻ và đồng thời giảm lo lắng sinh con dị tật cho các gia đình.
  • Phát hiện sớm thai nhi nếu có bất thường, dị tật ở những tuần thai đầu khi thai còn nhỏ thì việc đình chỉ thai cũng dễ dàng, ít gây hậu quả về sau cho cơ thể người mẹ và giúp gia đình sớm hồi phục tinh thần hơn so với việc để thai dị tật phát triển quá lớn.
  • Trong trường hợp dị tật có thể điều trị và gia đình vẫn quyết định giữ lại đứa bé, khám sàng lọc dị tật trước sinh giúp gia đình theo dõi sự phát triển của trẻ và tạo điều kiện chuẩn bị tâm lý cho người mẹ cũng như gia đình chăm sóc trẻ sau này.
Hi vọng những kiến thức hữu ích mà chúng tôi cung cấp trên đây sẽ giúp các mẹ bầu hiểu rõ hơn lợi ích và những vấn đề liên quan đến khám sàng lọc trước sinh. Hãy bảo vệ sức khỏe của bản thân và đứa bé ngay từ bây giờ các mẹ nhé.

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2020

Vài bệnh lý tim mạch hay gặp ở phụ nữ mang bầu

 Trong quá trình mang thai, cơ thể người phụ nữ thay đổi nhiều về tâm lý, giải phẫu, sinh lý, huyết học, tuần hoàn…Một hệ thống tim mạch khỏe mạnh là rất cần thiết để thích ứng được những thay đổi đó. Nhưng với những sản phụ có bệnh tim mạch thì thai nghén trở thành gánh nặng và làm cho các bệnh lý tim mạch trở nên nặng hơn, dễ xảy ra tai biến và biến chứng cho mẹ và thai nhi. Vì thế, việc theo dõi bệnh lý tim mạch khi đang mang thai rất quan trọng.

Một số bệnh lý tim mạch hay gặp ở phụ nữ mang thai


Bệnh tim thiếu máu cục bộ

phụ nữ có thai hay người không có thai đều gặp các yếu tố nguy cơ gây nhồi máu cơ tim như nhau. Nguy cơ nhồi máu sẽ tăng lên ở trường hợp đa thai, người hút thuốc lá, bệnh nhân đái tháo đường, béo phì, tăng huyết áp và mỡ máu cao.
Nhồi máu cơ tim hay gặp nhất trong 3 tháng cuối của quá trình mang thai và tử vong mẹ khoảng 20%. Về điều trị cũng tương tự với người không có thai. Đọc thêm: sàng lọc trước sinh là gì?

Rối loạn nhịp tim và thai nghén

Ngoại tâm thu nhĩ và thất là bệnh phổ biến trong thời kỳ mang thai. Bà bầu có cảm giác tim đập mạnh trong lồng ngực và thấy có khoảng hẫng nhịp sau nhịp ngoại tâm thu. Rối loạn nhịp nhanh cũng phổ biến trong thai kỳ.
Khoảng 20% trường hợp phụ nữ có cơn nhịp nhanh trên thất trước khi mang thai sẽ tái phát trong thời kỳ có thai. Vì thế, các sản phụ cần được theo dõi về tim mạch trong suốt quá trình mang thai.

Hẹp van hai lá

Bệnh hẹp van hai lá khởi đầu thường không có triệu chứng, nhưng khi mang thai có thể diễn biến xấu đi do nhịp tim nhanh, rối loạn nhịp tim hoặc do nhu cầu cung cấp máu tăng dẫn đến các biến chứng nặng như phù phổi cấp, nếu không được điều trị dễ dẫn đến tử vong.

Vì thế, sản phụ có bệnh hẹp van hai lá nặng cần được tư vấn bởi bác sĩ chuyên khoa tim mạch và thường điều trị nong van hoặc phẫu thuật sửa/thay van hai lá trước khi mang thai.

Hở van hai lá

Sản phụ nếu dung nạp tốt nên đôi khi quá trình mang thai vẫn diễn ra bình thường (thường gặp ở sản phụ chức năng tim còn bù trừ tốt).
Tuy nhiên, ở những sản phụ có hở van hai lá nặng kèm theo chức năng tim đã suy giảm thì quá trình thai nghén dễ có các biến chứng khi sinh nở.

Hẹp van động mạch chủ

Hẹp van động mạch chủ thường là bệnh bẩm sinh hoặc do di chứng của thấp tim. Nếu hẹp van động mạch chủ nặng hoặc đã có triệu chứng như khó thở, đau ngực thì cần khuyên người bệnh không nên có thai cho tới khi được phẫu thuật.

Hở van động mạch chủ

Sản phụ thường dung nạp tốt khi chức năng tim còn trong giới hạn bình thường. Cần lưu ý một số thuốc trong quá trình thai nghén như thuốc “ức chế men chuyển” (loại thuốc hay dùng điều trị trong hở van động mạch chủ) có nguy cơ dị tật với thai nhi nên cần thay thế bằng nhóm thuốc khác.

Van cơ học và thai nghén

Những sản phụ có mang van tim nhân tạo (được thay van nhân tạo cơ học trước khi mang thai) cần dùng thuốc chống đông suốt đời và phải tiếp tục trong suốt thời kỳ mang thai. Tuy nhiên, các thuốc chống đông như wafarin (Sintrom) và các dẫn xuất khác có thể dẫn đến bệnh lý thai nhi trong thời gian từ tuần thứ 6 đến tuần thứ 12, đồng thời làm tăng nguy cơ sẩy thai, thai lưu và xuất huyết nội sọ thai. Vì thế, với người bệnh mang van tim cơ học, việc mang thai sẽ dẫn đến nguy cơ lớn cho cả mẹ và thai nhi. Nếu vẫn tiếp tục mang thai thì trước khi sinh cần phải dừng wafarin và thay bằng thuốc chống đông khác là heparin trong 10 ngày trước khi sinh. Trong khi sinh thì dừng dùng heparin và dùng lại wafarin từ ngày thứ 2 hoặc thứ 3 sau khi sinh.
Các bệnh tim ít gặp khác trong quá trình thai nghén như: Tăng áp lực động mạch phổi, bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn, bệnh cơ tim chu sản (một loại bệnh lý đặc biệt có liên quan quá trình thai sản)… Đối với những sản phụ nói chung, đặc biệt, các sản phụ có bệnh tim nói riêng cần được theo dõi và quản lý thai nghén định kỳ theo hướng dẫn của nhân viên y tế. Các sản phụ có bệnh lý tim mạch kèm theo, cần được thăm khám và kết hợp điều trị của bác sĩ chuyên khoa tim mạch nhằm giảm các nguy cơ biến chứng và tai biến trong thai kỳ, đảm bảo sức khỏe cho cả mẹ và em bé.
Các mẹ có nhu cầu làm các dịch vụ xét nghiệm down, xét nghiệm hội chứng edward hoặc các xét nghiệm triple test ....vui lòng truy cập gentis.com.vn hoặc hotline: 18002010.

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2020

Cho con bú khi mang thai có sao không ?

 Cho con bú trong khi mang thai có hại gì không? Làm thế nào để cho bé ăn một cách an toàn trong khi người mẹ tiếp tục mang thai? Người mẹ nên cải thiện chế độ ăn uống trong thai kỳ như thế nào? Cùng xét nghiệm sàng lọc trước sinh gentis tìm hiểu  chi tiết trong bài viết sau.

Khi đang có thai mà cho con bú có sao không ?

Người mẹ đang cho con bú phát hiện mình có thai, phản ứng đầu tiên có lẽ là lo lắng. Bởi vì con bạn chưa cai sữa, bạn lo rằng mình có thể tiếp tục cho bé bú trong khi mang thai hay không hoặc nếu bạn cho con bú trong khi mang thai thì cả thai nhi và con nhỏ liệu có đủ dưỡng chất để phát triển hay không.

Điều này là dễ hiểu. Nhưng, thay vì lo lắng, mẹ hãy lắng nghe ý kiến các chuyên gia về dinh dưỡng, về sản khoa để có được lựa chọn hợp lý, mẹ khỏe, con khỏe, thai kỳ trọn vẹn.

Việc cho con bú trong thời kỳ mang thai là tương thích miễn là người mẹ cảm thấy khỏe mạnh. Và các hormone của thai kỳ không dễ dàng truyền vào sữa mẹ như nhiều người lầm tưởng.

Lời khuyên cho mẹ:

Cần lưu ý rằng khi cho con bú, cơ thể ngưởi mẹ giải phóng oxytocin (một loại hormone cũng gây ra các cơn co thắt) khiến mẹ cảm thấy một vài cơn co thắt mạnh hơn bình thường.

Nếu mẹ có một thai kỳ khỏe mạnh thì việc cho con bú trong khi mang thai không phải là vấn đề gì lớn.

Ngược lại, nếu bác sĩ cảnh báo những nguy cơ như sinh non, con nhẹ cân v.v… thì bạn nên tạm thời cai sữa để tập trung cho thai nhi phát triển tốt.

Vừa mang thai vừa cho con bú được đánh giá là an toàn

Đang mang thai cho con bú có gây sảy thai không?

Bạn có thể đã nghe ai đó nói rằng cho con bú trong khi mang thai có thể làm chậm sự phát triển của em bé hoặc thậm chí dẫn đến sẩy thai.

Lời khuyên cho mẹ:

Đừng lo lắng điều đó bởi không có bằng chứng cho thấy rằng có bất kỳ nguy cơ sảy thai nào ở những phụ nữ vẫn đang cho con bú. Thậm chí, với nhiều người, các cơn co thắt cũng hầu như không xảy ra.

Những vấn đề gặp phải khi vừa mang thai vừa cho con bú

Ốm nghén trong khi cho con bú

Ốm nghén có thể là một vấn đề khó khăn cho các phụ nữ trong giai đoạn đầu mang thai đặc biệt là khi người phụ nữ lựa chọn vừa mang thai vừa cho con bú thì cần phải ăn đủ dinh dưỡng để nuôi dưỡng cả thai kỳ và duy trì nguồn sữa.

Ốn nghén kéo dài có thể làm cạn kiệt các chất dinh dưỡng và ngườn sữa.

Lời khuyên cho mẹ:

Nếu tình trạng ốm nghén vẫn có thể kiểm soát được và chỉ diễn ra trong thời gian ngắn thì bạn có thể tăng lượng dinh dưỡng cho cả hai bé sử dụng nhất là trong hai tam cá nguyệt còn lại.

Nếu buồn nôn và ói mửa đặc biệt nghiêm trọng, hãy trao đổi với bác sĩ để có lựa chọn tốt hơn cho cả mẹ và các con đó là cai sữa cho con lớn, tập trung dinh dưỡng cho thai kỳ.

Mang thai liệu có đủ sữa cho con bú?

Nhiều mẹ lo lắng rằng nguồn cung cấp sữa mẹ có thể bắt đầu chậm lại một khi thai kỳ bắt đầu.

Điều đó có thể xảy ra nhưng thường từ giai đoạn giữa đến giai đoạn sau của thai kỳ. Sữa sẽ vẫn được sản xuất bình thường và không bị thay đổi về mùi vị cho đến giữa thai kỳ.

Lời khuyên cho mẹ:

Mẹ có thể xem xét đến việc cai sữa cho con nếu điều đó là cần thiết theo lời khuyên của bác sĩ sản khoa trong khi thăm khám định kỳ.

Ngoài ra, một số bé có thể quyết định tự cai sữa tại một số thời điểm trong thời kỳ mang thai của mẹ do nguồn sữa giảm hoặc do thay đổi khẩu vị, trong khi những bé khác thì không.

Dù bằng cách nào, bạn cũng nên theo dõi tình trạng tăng cân của em bé để chắc chắn rằng em bé của được cung cấp dinh dưỡng đầy đủ.

Mẹ vẫn có thể đủ sữa để có thể cho con bú trong khi mang thai

6 điều quan trọng mẹ đang cho con bú khi mang thai cần làm

Kiểm tra sức khỏe định kỳ

Nói chung, cho con bú trong khi mang thai là an toàn. Tuy nhiên, có một số trường hợp nhất định khi bác sĩ có thể khuyên cai sữa cho con chẳng hạn như:

  • Người mẹ đang mang thai có sảy thai hoặc nguy cơ khác cho thai nhi;
  • Người mẹ đang mang song thai hoặc hơn;
  • Người mẹ bị đau tử cung, vùng chậu hoặc chảy máu trong thai kỳ;
  • Khám thai định kỳ (với các chỉ số phát triển của thai nhi) và có sự tham gia ý kiến của bác sĩ sản khoa giúp xác định liệu bạn có nên tiếp tục cho con bú trong khi mang thai.

Nếu bác sĩ không khuyến khích cho mẹ vừa mang thai vừa cho con bú thì mẹ cũng nên vui vẻ bởi vẫn còn rất nhiều lựa chọn thay thế tốt cho con. hội chứng edwards là gì ?

Ngồi hoặc nằm trong khi cho con bú

Người mẹ ngồi hoặc nằm ở một vị trí thoải mái cho cả mẹ và bé khi cho con bú hoặc khi hút sữa kết hợp nghỉ ngơi trong khi bé đã ăn no.

Người mẹ có thể thai đổi nhiều tư thế theo sự phát triển lớn dần của thai kỳ và em bé sao cho bản thân thoải mái nhất.

Theo dõi nguồn sữa của chính mình

Có rất nhiều bà mẹ (kể cả có vừa mang thai vừa cho con bú hay không) bắt đầu ít dần vào khoảng 06 tháng sau sinh nhưng một số khác thì lại rất dồi dào.

Lượng sữa ở mỗi người là khác nhau và mẹ đừng quá lo lắng khi đến khoảng tháng 4 hay tháng thứ 5 của thai kỳ, sữa bắt đầu ít đi.

Mẹ hãy bổ sung chế độ dinh dưỡng đầy đủ và kích sữa nếu muốn. Nếu sữa vẫn ít, mẹ hãy cai sữa cho con và tập trung dinh dưỡng cho thai kỳ khỏe mạnh.

Biết cách chăm sóc vú và núm vú

Đau núm vú là tình trạng thường xuyên khi cho con bú mẹ nhưng điều này có thể nghiêm trọng hơn nếu người mẹ cũng trải qua thai kỳ.

Hãy chăm sóc vú và núm vú của bạn bằng cách massage nhẹ nhàng, luôn lau sạch bằng nước ấm trước và sau mỗi lần con bú.

Mẹ có thể sử dụng các loại kem trị nứt cổ gà an toàn sử dụng được trong thai kỳ và cho con bú để khắc phục.

Ăn uống như thế nào khi vừa mang thai vừa cho con bú

Phụ nữ vừa mang thai vừa cho con bú ăn cho ba người. Họ cần tiêu thụ nhiều hơn để cung cấp cho cả em bé đang phát triển và sản xuất sữa.

Tổng năng lượng khoảng 600 đến 800 calo với 300 cho thai nhi và 300 đến 500 cho sản xuất sữa.

Hầu hết các chuyên gia sản khoa đều đồng ý rằng không cần tăng thêm calo nếu bạn đang trong ba tháng đầu của thai kỳ. Vì vậy, những bà mẹ đang bị ốm nghén hoặc buồn nôn, ăn uống ít trong 3 tháng đầu thai kỳ cũng không nên quá lo lắng.

Quan trọng là đừng quên uống nước với 8-12 ly/ngày.

Các tháng sau đó, bạn có thể tăng lượng thức ăn, bổ sung dinh dưỡng trong thai kỳ một cách cân bằng cùng các loại vitamin dành cho bà bầu.

Giữ sức khỏe khi vừa cho con bú vừa mang thai

Bình thường, phụ nữ mang thai có thể vận động phù hợp trong từng giai đoạn của thai kỳ như đi bộ, tập các bài tập vận động.

Tuy nhiên, khi vừa mang thai, vừa cho con bú, phụ nữ cần phải chú ý vấn đề sức khỏe nhiều hơn. Việc bạn vừa chăm con, vừa sản xuất sữa cho bé bú lại mang trong mình một thai nhi đang lớn cần sự nỗ lực rất lớn từ người mẹ.

Mẹ cần giữ sức khỏe trong khi vừa mang thai vừa cho con bú

Vừa mang thai vừa cho con bú là an toàn. Nhưng nếu mẹ quyết định cai sữa sớm hơn, điều này không có gì là tội lỗi hay khiến mẹ đau khổ. Mẹ hãy thoải mái tâm lý bởi vì có rất nhiều lựa chọn tốt cho cả hai bé mà mẹ có thể chọn để con vừa phát triển tốt, mẹ vừa khỏe mạnh.  

Đọc thêm: sàng lọc trước sinh khi nào ?

Bà bầu nên đi tiêm phòng bệnh Rubella lúc nào?

 Theo Thạc sĩ – bác sĩ Vũ Quốc Tuấn (Giám đốc Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe Hà Nội) thì cúm do nhiễm virus rubella thường có triệu chứng sốt, mệt mỏi, đau đầu, viêm kết mạc mắt, hạch sưng (hạch góc hàm, hạch sau tai,..) triệu chứng viêm đường hô hấp biểu hiện nhẹ có thể không có.

Tiêm vắc-xin là biện pháp phòng ngừa Rubella hiệu quả

Phát ban thường từ sau 2 đến 7 ngày, ban thường nổi từ phần ngực đến sau lưng, tay, mặt và toàn thân; ban màu hồng sáng hơn ban sởi, sần nhỏ có thể kết hợp thành quầng đỏ rộng mỏng tồn tại khoảng 2 đến 5 ngày, nhưng cũng có trường hợp người bệnh sốt và phát ban khắp người chứ không theo thứ tự và để lại vết thâm như sốt phát ban bệnh sởi ở người.

Biện pháp phòng bệnh rubella một cách hữu hiệu nhất là đi tiêm phòng vacxin phòng tránh vi rút rubella cho các đối tượng trẻ em từ 9 tháng tuổi và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ khi tiêm phòng. Với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ khi tiêm phòng phải sử dụng các biện pháp tránh thai hữu hiệu trong 3 tháng liên tục, gồm 1 tháng trước khi tiêm chủng và 2 tháng sau khi tiêm chủng. Ngoài ra mẹ bầu nên thực hiện các loại xét nghiệm khác như xét nghiệm hội chứng down, xét nghiệm hội chứng edwards...

Điều trị bệnh Rubella ở bà bầu

Khi mắc bệnh, người bệnh sẽ có các biểu hiện sốt, mệt mỏi nên cần điều trị triệu chứng đó như giảm đau, hạ nhiệt. Ngoài ra, người bệnh cần  phải giữ ấm, tránh gió, kiêng nước trong thời gian phát ban tránh bội nhiễm và viêm đường hô hấp. Bên cạnh đó, chế độ ăn uống cho người mắc Rubella cũng vô cùng quan trọng, cần ăn uống đủ chất dinh dưỡng, ăn thêm nhiều hoa quả để nâng cao sức đề kháng cho cơ thể.

Vì hậu quả của Rubella với phụ nữ mang thai vô cùng nghiêm trọng và rất khó để nhận biết những bà bầu mắc Rubella nên sản phụ nên thường xuyên đi khám, kiểm tra sức khỏe của bản thân và thai nhi nhằm phát hiện bệnh và các dị tật sớm để có hướng điều trị kịp thời.

Cách phòng ngừa bệnh Rubella ở bà bầu

– Luôn giữ vệ sinh môi trường, ngoại cảnh, phòng ốc thông thoáng. Giữ vệ sinh trong sinh hoạt, ăn uống, mang khẩu trang khi ra đường. Tránh tập trung đông người trong thời gian có dịch xảy ra.

– Nâng cao thể lực bằng cách tập thể dục thể thao, sinh hoạt điều độ, ăn uống đầy đủ dưỡng chất.

– Phụ nữ mang thai chưa có miễn dịch nên tránh tiếp xúc với người bệnh rubella, nếu lỡ tiếp xúc thì nên đi khám bệnh để các bác sĩ cân nhắc và xử trí đúng đắn nhất.

– Cho người bệnh ăn thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu, uống nhiều nước, ăn nhiều trái cây. Người bệnh cần được vệ sinh mũi họng (nhỏ mũi và xúc họng) hàng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý 9%o. Đối với trẻ nhỏ cần giặt khăn bằng nước ấm lau mình mẩy hàng ngày cho bé. Nếu người bệnh xuất hiện các triệu chứng của bệnh rubella cần đến các cơ sở y tế làm xét nghiệm. xét nghiệm double test là gì ?

Mẹ bầu cần tiêm vắc-xin ngừa Rubella để bảo vệ sức khỏe

Trẻ khiếm thính do mẹ bị rubella lúc mang thai

Tôi có mới có con trai đầu lòng được 4 tháng tuổi. Khi mang thai, tôi bị rubella mà không biết, hậu quả là con tôi bị đục thủy tinh thể 2 mắt, tim bẩm sinh và bị điếc bẩm sinh. Tôi muốn hỏi bác sĩ có trường hợp nào như cháu nhà tôi mà khắc phục được chứng điếc không? Mẹ Trọng Nghĩa – TP.HCM).

Trả lời:

Đọc thư mẹ Trọng Nghĩa gửi cho tôi thì đúng là mẹ Trọng Nghĩa đã bị rubella lúc mang thai 4 tháng. Hầu hết những trường hợp mẹ đang mang thai mà bị rubella thì con hay bị đa dị tật. Tùy theo tuổi thai mẹ bị rubella mà con bị dị tật nặng hay nhẹ. Mẹ mang thai 3 tháng đầu bị rubella thì con bị đa dị tật rất nặng. Mẹ của Trọng nghĩa mang thai tháng thứ 4 mới bị nhiễm rubella nên con bị đa dị tật có phần hơi nhẹ hơn: như dị tật tim có thể nhẹ vì theo bác sĩ để theo dõi có thể lớn không cần mổ. Riêng về mức độ khiếm thính thì cần phải đo khám mới biết được. Tuy nhiên, mẹ Trọng Nghĩa cũng nên chuẩn bị tinh thần vì hầu hết các cháu có mẹ bị rubella mà tôi đã khám bị điếc nặng tới điếc sâu. Dẫu sao cũng nên cho cháu đi khám để biết sức nghe của cháu như thế nào mới có hướng giải quyết sớm. Nếu cháu bị khiếm thính nhẹ và vừa thì mang máy nghe sẽ phát triển bình thường (nếu cháu không bị chậm phát triển, nhiều cháu do mẹ bị rubella khi mang thai ngoài dị dạng về mắt, tim, tai còn kèm theo chậm phát triển). Nếu cháu bị điếc nặng và sâu có lẽ đầu tiên bạn nên tìm lương y Ly coi ông ta chữa được không (vì ông ta đã chữa được cho bé Tuấn Nghĩa).

Nếu ông ta không chữa được, bạn sẽ cho bé mang máy nghe NAIDA V hoặc IX ( NAIDA IX tốt hơn) từ 3 – 6 tháng sau đó bác sĩ sẽ đánh giá lại việc phát triển nghe, tiếng nói và ngôn ngữ trong 6 tháng mang máy nghe. Nếu kết quả tốt bé sẽ mang máy nghe tiếp. Nếu kết quả không tốt lúc đó mới nghĩ đến chuyện cấy ốc tai điện tử cho bé. Mang máy nghe là bước thứ nhất của quy trình cấy điện ốc tai vì vậy chúng ta nên lựa chọn máy tốt nhất theo khả năng tài chính của gia đình mình.

Đọc thêm: Bảng giá xét nghiệm sàng lọc trước sinh